Lịch sử từ nguyên của từ “lò” và sự lan truyền các kiểu lò của Trung Quốc ở Đông Nam Á lục địa
DOI:
https://doi.org/10.33100/tckhxhnv9.4.MarkAlvesTừ khóa:
ngôn ngữ học lịch sử, từ nguyên học Đông Nam Á, từ mượn Hán, lịch sử ngôn ngữ học dân tộc, gốm sứTóm tắt
Bằng chứng ngôn ngữ học và dân tộc học cho thấy từ lò “stove, oven, kiln” của tiếng Việt là một từ mượn tiếng Hán sơ kỳ, được vay mượn vào thiên niên kỷ 1 sau công nguyên (SCN) trước thời kỳ tiếng Hán trung cổ và sự phát triển cách đọc/phát âm Hán Việt, 爐/炉, lô. Từ lò thuộc về lĩnh vực liên quan đến nghề gốm sứ. Ngoài ra, từ này phù hợp với bối cảnh dân tộc học lịch sử ở Đông Nam Á lục địa. Nó ủng hộ giả thuyết khảo cổ học của Hein (2008) về hai khu vực (tức là “vùng ven biển” và “vùng nội địa”) lan truyền vắt chéo nhau (crossdraft) của các lò gốm kiểu Trung Quốc. Dữ liệu từ vựng cho thấy rằng, đối với các từ chỉ “bếp, lò, lò nung”, (a) một từ mượn Hán sơ kỳ (爐/炉 lú (bính âm Hán ngữ), lò “bếp, lò nung”)1 có trong cả tiếng Việt và tiếng Khơ-me với một nguyên âm thấp [ɔ, ɑ] (không phải là nguyên âm cao [u, o] của các biến thể tiếng Hán); (b) về phía Tây ở Đông Nam Á lục địa, nhiều ngôn ngữ Tai có từ dạng [taw], có thể gốc từ từ/chữ 匋 táo, đào “gốm sứ, lò nung” của tiếng Hán; (c) ở miền Nam Trung Quốc, có nhiều từ mượn Hán (匋 táo, đào “gốm sứ; lò nung”; 窯/窑 yáo, diêu; “lò”, 竈/灶 zào, táo “bếp”) được tìm thấy ở suốt các ngôn ngữ Kra-Dai và Tạng - Miến Điện. Vùng nội địa tương ứng với (b) và (c), và vùng ven biển phù hợp một phần với (a).
Ngày nhận 10/5/2023; ngày chỉnh sửa 09/8/2023; ngày chấp nhận đăng 30/8/2023
